Thông tin tham khảo

Cấp bậc đào tạo nghề in ở CHLB Đức

Cập nhật: 26/04/2012

Có thể nói hệ thống giáo dục và đào tạo của nước Đức thuộc vào hàng rất tốt. Mặc dù bị đánh giá là ngày càng chậm về mặt phát triển và dần lạc hậu so với các nước khác, chịu sự cạnh tranh khốc liệt… nhưng nền tảng nghiên cứu và trình độ kỹ thuật lâu đời là một thế mạnh đáng kể của Đức.

Công nghệ in là một ngành cực mạnh của CHLB Đức, cái nôi của ngành in hiện đại với phát kiến Lithographie của Alois Senefelder (một người có lịch sử khá rối rắm : sinh ra ở Prag -Cộng hòa Séc, là một diễn viên ở Áo và sống tại Đức)

1. SƠ LƯỢC VỀ NGÀNH IN Ở ĐỨC:

Tại Đức, khi nói đến in là người ta nghĩ ngay đến Heidelberg, Man-Rolan, KBA – 3 nhãn hiệu máy in nổi tiếng nhất của Đức và thế giới, đó là chưa kể đến những công ty chế tạo máy in khác với quy mô nhỏ hơn và rất nhiều các công ty chuyên về thiết bị trước và sau in như Basys-Print, Creo… .

- Xét về lãnh vực in Offset, Heidelberg được xếp làm anh cả, đứng sau là Man-Roland. Cả hai công ty này không ngừng đưa ra những cải tiến kỹ thuật nhằm hoàn thiện cho các khâu sản xuất in. MAN cho ra đời hệ thống máy in bao gồm…15 đơn vị in nhằm đáp ứng nhu cầu về chất lượng, thời gian, Heidelberg với một loạt cải tiến cho các hệ thống Prinect của họ....

- Kém nổi trội hơn Heidelberg và Man ở lĩnh vực này nhưng KBA (viết tắt của Koenig & Bauer AG) lại đặc biệt có thế mạnh ở lãnh vực in lõm (in ống đồng – Tiefdruck) và in Kỹ thuật số với hệ thống lô mực lô mực ngắn – kurzes Farbwerk số lượng lô mực ít hơn)…

Các phát kiến cải tiến kỹ thuật cũng như những hội thảo chuyên đề, và tất cả những gì liên quan đến in ấn đều được cập nhật thường xuyên thông qua

- Trang web của Hiệp hội ngành in nước Đức (Bundesverband Druck und Medien ( http://www.bvdm.org/ )

- Những tạp chí chuyên ngành (Fach-Zeitschrift) như Druck- und Medientechnik (Print and Mediatechnology), Deutsche Drucker (tạm dịch là Thợ in Đức), Publishing –Praxis (Xuất bản chuyên đề), Prepress, Desktop, Bindereport (tạp chí chuyên về khâu hoàn thiện sản phẩm in), Flexo & Gravure… ngoài ra Heidelberg, MAN và KBA còn có những tạp chí chuyên đề riêng của hãng.

Số lượng các nhà máy in của Đức cũng vào hàng lớn nhất với lượng sản phẩm in khổng lồ mỗi năm ( con số cụ thể không đưa ra được).


Gutenberg


2. CẤP BẬC ĐÀO TẠO:

Để đáp ứng nguồn nhân lực cho lĩnh vực này, ở Đức có rất nhiều trường và cấp bậc đào tạo chuyên ngành in. Theo thứ tự thì gồm có :

- Fachabitur - Fachschule hoặc fachgebundene Hochschulreife (tạm dịch như Trung học chuyên nghiệp vì vừa có chứng chỉ nghề và vừa có bằng tú tài như ở Việt Nam)

- Ausbildung - Schule (Trường chuyên dạy nghề)

- Meisterbildung - Schule (Trường chuyên dạy nghề bậc cao, có thể xem như cấp bậc thợ cả ở Việt Nam)

- Techniker - Fachhochschule ( Trường dạy chuyên viên kỹ thuật)

- Diplom (hệ văn bằng này đã được thay bằng Bachelor và Master) ở Universität, technische Universität và Fachhochschule (đại học, đại học kỹ thuật và đại học khoa học ứng dụng).

- Doktor và Professor ( Tiến sĩ và giáo sư)

Hệ thống tiền lương cho nhân viên ngành in cũng phân biệt rất rạch ròi theo cấp độ, ở Đức người ta phân biệt rõ ràng giữa thợ in và Kỹ sư in.

2.1 Fachabitur :

- Học sinh sẽ học song song 2 chương trình : giáo dục bình thường và nghề.

- Thời gian từ 2 đến 3 năm trong đó có thời gian đi thực tập tại các xí nghiệp sản xuất.

- Chuyên ngành lựa chọn : Prepress, Press, Postpress tùy thuộc học viên chọn cơ sở thực tập.

- Nền tảng kiến thức sau khi tốt nghiệp : kiến thức sơ bộ, khái quát về ngành in. Là bước đệm cho Ausbildung và Studium ở Fachhochschule ( kể từ năm 2006, Fachabitur không được học tiếp lên Universität hoặc phải qua kiểm tra đầu vào).

2.2 Ausbildung :

- Học nghề chính với phần lớn thời gian ở các xưởng in và một vài buổi trong tuần lên lớp học lý thuyết. Được trả lương học nghề.

- Thời gian học từ 2 – 3 năm.

- Chuyên ngành lựa chọn : Prepress, Press, Postpress tùy thuộc học viên chọn cơ sở thực tập.

- Nền tảng kiến thức sau khi tốt nghiệp : kiến thức sơ bộ, khái quát về ngành in. Là bước đệm choMeister-Schule hoặc Studium ở Universität và Fachhochschule ( vài trường Uni bắt phải qua kiểm tra đầu vào). Trực tiếp tham gia sản xuất tại các xí nghiệp sau kinh nghiệm thực tế 3 năm làm việc trong quá trình học.

2.3 Meister :

- Sau khi hoàn thành Ausbildung có thể tham gia tiếp.

- Tương tự như Ausbildung nhưng trình độ tay nghề và kinh nghiệm cao hơn, họ có thể là những trưởng ca sản xuất (Schichtführer) hoặc điều độ sản xuất (Kalkulator).

2.4 Techniker :

- Cao hơn Meister một bậc, với thời gian học từ 4 đến 6 học kỳ ở các trường Fachhochschule.

- Nền tảng kiến thức sau khi tốt nghiệp : chuyên sâu hơn Meister, khả năng nghiên cứu vấn đề, quản lí dự án..


2.5 Hệ Diplom, Bachelor và Master


- Đầu vào phải là những người đã có Abitur (Bằng tú tài gốc), Meister, Techniker, Ausbildung (một số trường bắt phải làm kiểm tra đầu vào).

- Hệ Diplom (4,5 đến 6 năm) không còn phổ biến, chỉ còn dạng Lehramt, sinh viên phải học một lúc 2 chuyên ngành ( 1 là ngành in và ngành còn lại tự chọn). Cuối khoá phải thi đạt chứng chỉ của thành phố (kỳ thi khó nhất), vì Lehramt sau khi tốt nghiệp sẽ làm việc với tư cách là một giáo viên ở các trường dạy Fachabitur hoặc Ausbildung nên ngôn ngữ là một vấn đề trở ngại cho lưu học sinh, do đó ngành này thường chỉ dành cho người Đức.

- Hệ Bachelor (3 năm) và Master ( thường là chương trình mở rộng-Aufbau cho Bachelor, kéo dài 2 năm. So với Diplom chính ( không còn tồn tại - không tính Lehramt) tính ra ngang nhau về thời gian nhưng chuyên sâu không bằng). Hệ Bachelor có sự khác biệt giữa Universität và Fachhochschule :

+ Universistät : 3 năm tương ứng 6 học kỳ, cấp độ này hiện nay duy nhất chỉ có Bergische Universität Wuppertal đào tạo (sẽ có bài viết riêng). Nghiêng nặng về phần lý thuyết nghiên cứu, không có học kỳ thực tập mà chỉ có một học kì dành cho Projekt-Arbeit (đồ án), sinh viên có thể chọn làm tại xí nghiệp hoặc theo đề tài do các giáo sư đưa ra.

+ Fachhochschule (FH) : 3 năm tương ứng 6 học kỳ, có rất nhiều trường : đầu tiên phải kể đến là FH Stuttgart ( Hochschule der Medien, tạm dịch là trường đại học chuyên về truyền thông) nổi tiếng khắp nước Đức ( rất tiếc ngon hơn cả Universität Wuppertal), sau đó là FH Leipzig ( nơi các thầy cô trường ĐHSP Kỹ thuật của chúng ta …“luyện công“) , München (người Việt mình biết đến tên Munich nhiều hơn), Berlin, Hannover.. ở đây các sinh viên bên cạnh việt học lý thuyết đại cương còn phải làm thực tập cho các môn học, ngoài ra còn có 1 học kì thực tập ở các xí nghiệp (ở Universität thì xem như Projekt-Arbeit).

- Cả 2 hệ văn bằng trên đều phải làm luận văn tốt nghiệp Bachelor-Thesis và Master-Thesis, không thi tốt nghiệp như ĐHSP kỹ thuật của ta .

- Tốt nghiệp Bachelor và Master, sinh viên có nền tảng sâu về kiến thức chuyên môn cũng như khả năng quản lí dự án, quản lí con người, quản trị doanh nghiệp. Có khả năng mở rộng, tiếp thu nhanh kiến thức chuyên môn sau này. Thông thường vị trí chính thức trong sản xuất in là điều hành sản xuất, quan hệ khách hàng, quản lí dự án in… và… hầu như không đụng đến máy in.

2.6 Hệ Doktor và Professor :

- Thật ra chỉ là Doktor (tiến sĩ), còn Professor (giáo sư) khá phức tạp.

- Để được làm Doktor-Arbeit (nghiên cứu tiến sĩ), :

+ Bạn phải tốt nghiệp tối thiểu Master hoặc Diplom (trước đây). Hệ Master cả 2 trường Universität và Fachhocschule đều được chấp nhận ( trước đây chi có Master, Diplom của Universität là được chấp nhận).

+ Phải có một giáo sư đứng ra đỡ đầu chấp nhận cho bạn. thường thì người làm nghiên cứu sinh sẽ có chức vụ wissenschaftlicher Mitarbeiter ( tạm dịch là cộng tác viên khoa học) và được trả lương định kì ( bao nhiêu thì có trời biết, tiếc là không cao như khi đi làm bình thường).

+ Phải có đề tài nghiên cứu rõ ràng (cái này sẽ do giáo sư kiểm tra đầu vào).

- Thời gian kéo dài từ 4 năm trở lên.

- Sau khi làm tiến sĩ, phải làm nghiên cứu và giảng dạy thêm vài năm (dưới sự giám sát của giáo sư chính) để có thể được hội đồng chức danh giáo sư xem xét và phong danh hiệu giáo sư…

3. TỔNG KẾT:

Cấp bậc ngành nghề đa dạng, thời gian đào tạo khác nhau là nét phong phú trong hệ thống đào tạo ngành in của Đức. Nhưng để có một trình độ tương xứng với bằng cấp và thời gian bỏ ra, đòi hỏi người học viên phải bỏ công sức nghiên cứu học tập. Tiếng Đức là một trở ngại lớn cho dân Việt chúng ta, nhất là khi có rất nhiều cạm bẫy, cám dỗ làm ta chểnh mảng chuyện học như Internet, truyền hình, mua sắm và cả... XXX. Do đó, các bạn hãy suy nghĩ thật kĩ để có sự chuẩn bị tinh thần và vật chất , chuẩn bị bước vào môi trường mới. Chúc bạn thành công.

KS Nguyễn Duy Linh - Universität Wuppertal (Đức)

Trang chủ | Giới thiệu | Liên hệ
| Hướng dẫn
Diễn đàn Kỹ thuật in Việt Nam - Thành lập và điều hành từ năm 2004 bởi Ban Quản Trị kythuatin.com
Giao diện thiết kế bởi công ty Cao Nguyên Xanh - www.caonguyenxanh.com.vn